TinNgàn năm khố
Published on November 22, 2014 · No
TTXVA.NET BIÊN TẬP
Gần đây có bài báo phủ định tục đóng khố thời Hùng Vương, đồng thời nói rằng “
đã đến lúc cần cấp tốc loại bỏ thứ văn hóa đóng khố ra khỏi nhận thức về trang phục thời đại Hùng Vương“
thành lập công ty 100 vốn nước ngoài thành lập công ty 100 vốn nước ngoài Tin tức . Tuy nhiên, trong chuyên khảo trang phụcNgàn năm áo mũ tôi đã nhiều lần đề cập đến việc cư dân vùng đồng bằng sông Hồng đóng khố từ rất sớm, muộn nhất là thời Đông Sơn. Có thể ấn chứng điều này qua hình tượng vũ công trên trống đồng và hình tượng người lính, dũng sĩ trên cán dao găm Đông Sơn…

Khảo tư liệu hình ảnh và tài liệu chữ viết tương quan, có thể thấy trước thời Nguyễn(thế kỷ XIX), tục đóng khố trong dân gian Việt Nam hết sức phổ biến. Dù rước kiệu vua hay rước linh cữu, phu khiêng kiệu thời Lê đều nhất loạt đóng khố. Điều này cho thấy việc đóng khố trong quan niệm của người thời Lê là hết sức bình thường. Người thời đó không cho rằng đóng khố là tập tục “thô bỉ”, “hủ lậu” như cách nhìn của vua quan triều Nguyễn. Truy xa hơn nữa, có thể thấy người Việt thời Trần, Lê, nhiều khi nóng bức, chỉ đóng mỗi cái khố và khoác chiếc áo dài quá gối ra bên ngoài.
Cần lưu ý, năm 1744 là thời điểm diễn ra cuộc cải cách trang phục toàn xứ Đàng Trong, xuất phát từ ý muốn độc lập so với Đàng Ngoài của Chúa Nguyễn Phúc Khoát (阮福闊, 1714 – 1765) cả về chính trị lẫn văn hóa, đặc biệt là trang phục. Đây là thời điểm xuất hiện bộ trang phục áo dài gài khuy kết hợp với quần dài. Mà đợi đến thời vua Minh Mạng triều Nguyễn, bộ trang phục này mới được phổ biến rộng ra toàn quốc. Bên cạnh đó, vua Minh Mạng đã đặt ra những lệnh cấm y phục cố cựu của miền Bắc như áo tứ thân, áo giao lĩnh, váy đụp, đặc biệt là việc đóng khố. Tôi đơn cử một số tư liệu như sau :
◆Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (欽定大南會典事例) chép lời dụ của vua Minh Mạng vào năm 1837, cho biết : “
Trước đây từ sông Gianh trở ra ngoài, y phục vẫn noi theo thói tục hủ lậu, nay đặc biệt chỉ dụ, lệnh phải thay đổi theo cách ăn mặc từ Quảng Bình trở vào trong để đồng nhất phong tục. […] Từ Quảng Bình trở vào Nam, quần áo mũ mão nhất nhất noi theo chế độ Hán Minh, trang phục tề chỉnh, so với tục cũ của người miền Bắc, đàn ông đóng khố, đàn bà mặc áo giao lĩnh, dưới mặc váy tròn, đẹp xấu chẳng phải rõ ràng dễ thấy sao ?“.
◆Quốc sử di biên (國史遺編) chép vào tháng 5 năm 1830 : “
Bắc Thành Phó Tổng trấn Phan Văn Thúy lại nêu rõ điều cấm về quần áo. Cấm đàn ông đội mũ dài… áo giao lĩnh thụng tay và đóng khố quanh eo đùi. Đàn bà không được dùng vải, lụa ngắn quấn đầu, không được dùng thắt lưng to, nhỏ và mặc quần không đáy“.
◆Dã sử lược biên Đại Việt quốc Nguyễn triều thực lục(埜史略編大越國阮朝寔錄) còn cho biết : “
… cấm đàn ông đóng khố, đàn bà không được mặc váy kiêm áo tứ thân ; nhất loạt đều dùng quần và áo năm thân theo lệnh của Hiếu Võ Hoàng đế năm xưa ở Thuận Hóa“.
Tác giả bài báo tôi đề cập ở trên cho rằng các ông vua Hùng đã phải có quần dài áo rộng, chứ không thể chỉ đóng khố được. Vả lại, có thể dân thường đóng khố, chứ đã là thủ lĩnh thì phải có trang phục đẹp. Tôi chỉ xin lưu ý trường hợp tộc người Dayak ở Malaysia, tộc người gần đây được cho là có nhiều nét văn hóa rất giống văn hóa Đông Sơn ở ta, dù vải vóc dư thừa nhưng thủ lĩnh của họ vẫn chỉ cởi trần đóng khố, đầu đội lông chim mà thôi.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng, thái độ khinh bỉ cái khố vì cho rằng đó là biểu hiện của sự lạc hậu, bán khai trên thực tế là cái nhìn lệch lạc sau khi đã bị ám ảnh bởi văn hóa trang phục Tàu. Thấy Tàu làm trang phục đẹp thì muốn mình cũng phải có trang phục đẹp, không muốn “tổ tiên” đóng khố và càng không muốn trang phục bị coi là giống Tàu, trên thực tế thể hiện sự tự ti, nhược tiểu, cố gắng bãi thoát khỏi Tàu nhưng lại càng giống Tàu và gần Tàu hơn bao giờ hết. Muốn thoát khỏi cái bóng của người ta nhưng lại sử dụng chính cái cách tư duy, cũng như quan điểm thẩm mỹ của người ta, rốt cuộc chỉ làm trò cười cho thiên hạ mà thôi.
Comments[ 0 ]